Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

DẦU THỦY LỰC

Kiến thức chung về dầu thủy lực

1.Dầu gốc để sản xuất ra dầu nhớt

bao gồm dầu gốc khoáng và dầu gốc tổng hợp.
Dầu gốc khoáng là dầu được chưng cất từ dầu mỏ (hay còn gọi là dầu thô) sau khi đã tách ra các thành phần không mong muốn được đem trộn lẫn với các chất phụ gia để tạo thành dầu nhớt.
Dầu gốc tổng hợp là sản phẩm của quá trình chế biến hóa học nhằm mục đích tạo ra sản phẩm cuối cùng có thành phần đồng đều tạo điều kiện cho các chất phụ gia phân tán đều đặn trong dầu, có khả năng chịu được các điều kiện làm việc khắc nghiệt hơn nhiều so với dầu gốc khoáng rất nhiều lần như : bền với các tác nhân ôxihóa (do đó cho tuổi thọ dầu cao hơn), khoảng nhiệt độ làm việc rộng hơn, chỉ số độ nhớt vượt trội (cho phép độ nhớt ít biến đổi ngay cả khi nhiệt độ làm việc thay đổi mạnh, vì vậy đảm bảo được quá trình bôi trơn), ít tiêu hao hơn ….
Dầu gốc tổng hợp được chia ra làm nhiều loại, bao gồm : Các Hydrocacbon tổng hợp, các este hữu cơ, Polyalfaolefin, PolyGlycol…

2.Các chất phụ gia:

Các chất phụ gia trong dầu bao gồm:
+/Phụ gia tăng chỉ số độ nhớt
+/Phụ gia dùng để ức chế quá trình ôxy hóa
+/Phụ gia tẩy rửa
+/Phụ gia phân tán
+/Phụ gia ức chế ăn mòn
+/Phụ gia ức chế mài mòn
+/Chất ức chế rỉ…
Mỗi một hãng sản xuất dầu nhờn sẽ có một công thức pha trộn với tỷ lệ khác nhau. Nhưng về cơ bản thì việc trộn lẫn các sản phẩm dầu có cùng thành phần dầu gốc hoàn toàn ko gây hại đến máy móc. Tuy nhiên việc pha trộn các sản phẩm dầu gốc tổng hợp với dầu gốc khoáng thì lại không như vậy. Mỗi một loại dầu gốc tổng hợp lại có khả năng tương thích với dầu gốc khoáng ở mức độ nhất định, thậm chí có loại hoàn toàn không tương thích.
Việc trộn lẫn các sản phẩm khác gốc dầu có thể làm xấu đi chất lượng dầu, gây nguy hại đến máy móc.

STT- Ký hiệu -Đặc tính chung của chất lỏng
1 -HH- Dầu khoáng tinh chế không có phụ gia
2 -HL- Dầu khoáng tinh chất chứa phụ gia chống gỉ vê chống oxi hóa
3 -HM- Kiểu HL có cải thiện tính chống mòn
4 -HR- Kiểu HL có cải thiện chỉ số độ nhớt
5 -HV- Kiểu HM có cải thiệu chỉ số độ nhớt
6 -HG- Kiểu HM có chống kẹt, chống chuyển động trượt chảy
7 -HS- Chất lỏng tổng hợp không só tính chất chống cháy đặc biệt
8 -HFAE- Nhũ tương dầu trong nước chống cháy, có 20% KL các chất có thể cháy được
9 -HFAS- Dung dịch chống cháy của hóa chất pha trong nước có tối thiểu 80% kl nước
10 -HFB- Nhũ tương chống cháy của nước trong dầu có tối đa 25% kl các chất có thể cháy được
11 -HFC- Dung dịch chống cháy của polyme trong nước, có tối thiểu 35% nước
12 -HFDR- Chất lỏng tổng hợp chống cháy trên cơ sở este của axit phosphoric.
13 -HFDS- Chất lỏng tổng hợp chống cháy trên cơ sở clo-hydrocacon
14 -HFDT- Chất lỏng tổng hợp chống cháy trên sơ sở hỗn hợp HFDR vê HFDS

Diễn đàn Oil & Gas

Dầu thủy lực – Hydraulic oil

Hoạt động của nhiều máy móc công nghiệp được điều khiển bởi hệ thống thủy lực (hydraulic system), một hệ thống sử dụng chất lỏng để truyền áp lực. Thông thường, dầu bôi trơn và đôi khi nước được sử dụng để truyền áp suất. Dầu bôi trơn không chỉ có tác dụng truyền áp suất và điều khiển dòng chảy mà còn tối thiểu hóa lực ma sát và sự mài mòn của những phần chuyển động và bảo vệ bề mặt kim loại không bị rỉ sét.
Hoạt động thủy lực dựa trên phát hiện của Pascal rằng áp suất trong chất lỏng giống nhau trong mọi hướng và giống như một đòn bẩy thủy lực. Như hình bên dưới, vật nặng 5 kg với 1 piston 10 cm2 sinh ra 1 áp suất 49 kPa (7.1 psi) khi truyền sang một piston 100 cm2 làm piston đó có thể nâng được một vật nặng 50 kg. Khi diễn ra sự chuyển động, piston nhỏ phải chuyển động 10 cm để đẩy piston lớn đi 1 cm.
Thành phần lớn nhất của dầu thủy lực là dầu khoáng được thêm phụ gia để đạt một số tiêu chuẩn đặc biệt. Dầu thủy lực chống mài mòn (Antiwear hydraulic fluid) là lượng dầu thủy lực lớn nhất được sử dụng, chiếm khoảng 80%. Mặt khác, nhu cầu cho dầu chống cháy (fire-resistant fluid) chỉ khoảng 5% tổng thị trường dầu công nghiệp. Dầu chống cháy được phân loại thành dầu nền nước (high water-base fluid), nhũ tương nước trong dầu, glycol và phosphate ester.

Các loại dầu thủy lực

Dầu khoáng thủy lực

Dầu khoáng là lý tưởng nhất dùng cho hầu hết các hệ thống thủy lực bởi vì bản thân chúng là những dầu thủy lực xuất sắc. Dầu khoáng có chỉ số độ nhớt cao (high viscosity index – VI) có thể sử dụng trong một khoảng rộng độ nhớt. Thông thường, những sản phẩm độ nhớt cao đặc biệt phù hợp để sử dụng ở điều kiện nhiệt độ thấp. Tất cả dầu đều chứa phụ gia, ví dụ như chống oxide hóa, chống rỉ sét và chống mài mòn. Trong trường hợp phụ gia đã được tiêu thụ hoặc mất đi trong quá trình hoạt động thì những loại dầu này vẫn tiếp tục được sử dụng hiệu quả trong một thời gian dài nữa. Dầu này được xử lý cẩn thận để có khả năng tách nước và chống tạo bọt tốt. Vì khả năng chống oxide hóa cao, những tính chất này được duy trì trong thời gian dài hoạt động.

Dầu nhờn.

Gần như tất cả dầu nhờn trên thế giới được làm từ phân đoạn có độ nhớt cao của dầu thô sau khi đã tách gas oil (diesel oil) và những phần nhẹ hơn bằng chưng cất. Tuy nhiên, dầu thô từ những vùng khác nhau trên thế giới sẽ có tính chất và hình thức khác nhau, mặc dù thành phần nguyên tố không khác nhau nhiều.
Hai loại dầu nhờn có cùng độ nhớt được liệt kê ở bảng sau. Một loại dầu được làm từ cycloparaffinic, ví dụ napthenic – dầu thô không chứa sáp và có điểm chảy thấp (-46oC). Ngược lại, loại dầu paraffinic cần phải loại sáp để giảm điểm chảy từ +27oC thành -18oC. Mặc dù cả hai loại có cùng độ nhớt ở 38oC, độ nhớt của dầu cycloparaffinic chịu ảnh hưởng nhiều của nhiệt độ hơn dầu paraffinic. Điều này được thể hiện qua chỉ số độ nhớt của dầu cycloparaffinic thấp hơn. Dầu cycloparaffinic ít được ưa chuộng khi dùng cho những sản phẩm hoạt động ở một khoảng rộng nhiệt độ, ví dụ như dầu động cơ ô tô.

Tính chất Cycloparaffinic Paraffinic
viscosity at 38°C (cS) 20.5 20.5
pour point, °C -46 -18
Viscosity index 15 100
flash point, °C 171 199
specific gravity 0.9075 0.8615
color, ASTM 1.5 0.5

Dầu thủy lực chống cháy

Bốn loại dầu thủy thực chống cháy được liệt kê như bên dưới. Trong đó, tính chống cháy của 3 loại có được vì chúng chứa một lượng nước phù hợp để làm mát và bao phủ những vật liệu cháy.
Loại Mô tả
HF-A Dầu chứa hàm lượng nước cao (95/5 fluid). Nó chứa một lượng tối đa 20% vật liệu cháy, là dung dịch đục đến trong suốt.
HF-B nhũ tương nước trong dầu, chứa tối đa 60% vật liệu cháy; hàm lượng nước thường từ 40 hoặc 45%, dung dịch trắng đục.
HF-C Dung dịch nước – glycol, thường chứa ít nhất 35% nước, trong suốt và thường được pha thêm màu
HF-D Không chứa nước, thường là phosphate ester hoặc polyol ester

Các loại dầu tổng hợp

Hydrocarbons

Hydrocarbons tổng hợp là dầu gốc tổng hợp phổ biến nhất. Đây là những hydrocarbon tinh khiết và được sản xuất từ nguyên liệu dẫn xuất từ dầu thô. Có 3 loại được sử dụng: olefin oligomer, alkylated aromatics và polybutene. Những loại khác như những hợp chất vòng no (cycloaliphatic) cũng được sử dụng với lượng nhỏ trong những ứng dụng đặc biệt.
Olefin Oligomers.
Olefin Oligomer được tạo thành bằng cách kết hợp một chất có khối lượng phân tử thấp, thường là ethylene, với một olefin đặc biệt để oligomer hóa thành một loại dầu bôi trơn. Trong quá trình oligomer hóa, một số phân tử kết hợp lại với nhau để kết thúc phản ứng. Do đó, sản phẩm có thể được hình thành với nhiều loại phân tử lượng khác nhau và đáp ứng được một khoảng rộng yêu cầu về độ nhớt.
Alkylated Aromatics (Hợp chất thơm được alkyl hóa)
Quá trình alkyl hóa kết nối những nhóm alkyl mạch thẳng hoặc nhánh với một chất thơm, thường là benzene. Thường thì những nhóm alkyl được sử dụng chứa từ 10-14 nguyên tử carbon và có cấu trúc paraffin bình thường. Tính chất của sản phẩm có thể được thay đổi bằng cách thay đổi cấu trúc và vị trí của nhóm alkyl.
Dialkylated benzene là một điển hình được dùng như một loại dầu bôi trơn.
Polybutene
Polybutene được sản xuất bằng cách polymer hóa butane và isobutene (isobutylene). Những chất có phân tử lượng thấp trong quá trình này được sử dụng làm dầu bôi trơn, trong khi những chất có phân tử lượng lớn được sử dụng làm chất cải thiện chỉ số độ nhớt (VI Improver) và chất làm đặc (thickener). Polybutene được sử dụng làm dầu bôi trơn có chỉ số độ nhớt từ 70-110. Trên khoảng nhiệt độ phân hủy (khoảng 288oC), sản phẩm sẽ phân hủy hoàn toàn thành các chất khí.
Vòng no (Cycloaliphatic)
Vòng no tổng hợp thông thường không được dùng như là dầu thủy lực. Vòng no được tổng hợp để sử dụng làm dầu kéo (traction lubricant) vì dưới áp lực cao, chúng có hệ số kéo cao và độ bền tốt. Một vòng no điển hình được sử dụng như là một dầu kéo tổng hợp là 2,3-dicyclohexyl-2,3-dimethylbutane C18H34

Ester hữu cơ.

Dibasic Acid Ester. Được điều chế bởi phản ứng của một dibasic acid với một alcohol có chứa 1 nhóm hydroxyl hoạt hóa.
Tính chất vật lý của sản phẩm cuối có thể khác nhau phụ thuộc vào alcohol và acid. Những hợp chất thường dùng là acid adipic, acid azelaic, acid sebacic và 2-ethylhexyl, 3,5,5-trimethylhexyl, isodecyl, and tridecyl alcohol.
Polyol Ester
Polyol ester được tạo thành bằng phản ứng của 1 alcohol có 2 hoặc hơn nhóm hydroxyl, ví dụ như polyhydric alcohol và 1 monobasic acid.
Trimethylolpropane, C6H14O3, and pentaerythritol, C5H12O4 là 2 polyol thường sử dụng. Thông thường, acid được sử dụng có được từ động vật hoặc thực vật và chứa từ 5-10 nguyên tử carbon.

Polyglycol

Polyglycol hay gọi một cách chính xác là polyalkylene glycol ether, là lượng dầu bôi trơn tổng hợp lớn nhất. Một lượng nhỏ những glycol đơn giản như ethylene glycol C2H6O2, và poly ethylene glycol được sử dụng làm dầu thắng (hydraulic brake fluid).

Phosphate Ester

Phosphate Ester là một trong những dầu tổng hợp được sản xuất nhiều nhất. Phosphate Ester điển hình có cấu trúc như sau, trong đó R có thể là nhóm aryl hoặc alkyl.

Phosphate ester có khả năng chống cháy cao hơn dầu khoáng.

Những dầu bôi trơn tổng hợp khác.
Silicone
Dầu Silicone có cấu trúc polymer, trong đó nguyên tử carbon được thay bằng nguyên tử silic.

Dimethylpolysiloxane, một trong những dầu silicon được dùng nhiều có cấu trúc như sau:

Silicate Esters
Silicate Ester, Si(OR)4, với R là nhóm aryl hoặc alkyl.

Dầu halogenate
Chlorocarbons, fluorocarbons hoặc kết hợp 2 chất này được sử dụng để tạo thành dầu bôi trơn.

Các chỉ tiêu chất lượng thường phân tích của dầu thủy lực -HYDRAULIC OIL
1 ASTM color ASTM D1500-07
2 Kinematics Viscosity @40oC ASTM D445-09
3 Kinematics Viscosity @100oC ASTM D445-09
4 Viscosity Index ASTM D2270-04
5 Flash Point by Open Cup ASTM D92-05a
6 Water by Distillation ASTM D95 – 05e1
7 Water content by Coulometric KFC ASTM D6304 – 07
8 Density @15oC ASTM D4052-96(2002)e1
9 Sulfated Ash content ASTM D874-07
10 Pour Point ASTM D97-09
11 Total Base Number ASTM D4739-08
12 Total Acid Number ASTM D974-08
13 Pentane Insolubles ASTM D893-05a (Method A)
Theo http://www.kiemnghiem.com

Phân loại dầu Thủy lực:

HHDầu khoáng tinh chế không có phụ gia
HLDầu khoáng tinh chất chứa phụ gia chống gỉ vê chống oxi hóa
HMKiểu HL có cải thiện tính chống mòn
HRKiểu HL có cải thiện chỉ số độ nhớt
HVKiểu HM có cải thiệu chỉ số độ nhớt
HGKiểu HM có chống kẹt, chống chuyển động trượt chảy
HSChất lỏng tổng hợp không só tính chất chống cháy đặc biệt
HFAENhũ tương dầu trong nước chống cháy, có 20% KL các chất có thể cháy được
HFASDung dịch chống cháy của hóa chất pha trong nước có tối thiểu 80% kl nước
HFBNhũ tương chống cháy của nước trong dầu có tối đa 25% kl các chất có thể cháy được
HFCDung dịch chống cháy của polyme trong nước, có tối thiểu 35% nước
HFDRChất lỏng tổng hợp chống cháy trên cơ sở este của axit phosphoric.
HFDSChất lỏng tổng hợp chống cháy trên cơ sở clo-hydrocacon
HFDTChất lỏng tổng hợp chống cháy trên sơ sở hỗn hợp HFDR vê HFDS


http://dauthuyluc.com/lua-chon-dau-thuy-luc-dung/a192892.html

http://dailydaunhot.com/?x=6/kien-thuc/can-hieu-ve-dau-nhot

THỊ TRƯỜNG

Các hãng dầu nhờn trên thị trường Việt Nam
Hiện nay trên thị trường có khá nhiều loại dầu nhờn, loại nào cũng là “người tình” hoặc "vợ" ... của xe máy, ô tô...
Hầu hết các hãng đều sản xuất những loại dầu như nhau và theo tiêu chuẩn quốc tế.
1. BP
BP Petco Ltd là một liên doanh giữa tập đoàn BP, một trong những tập đoàn dầu khí lớn nhất thế giới, và Petrolimex là công ty hoạt động hạ nguồn lớn nhất Việt Nam

Tính đến nay, BP Petco với tổng vốn đầu tư là 50 triệu USD là liên doanh lớn nhất trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dầu nhờn tại Việt Nam. Liên doanh BP Petco, với 65% tổng số vốn sở hữu bởi BP và 35% sở hữu bởi Petrolimex, chuyên vận chuyển, sản xuất, phân phối và kinh doanh các sản phẩm dầu khí tại thị trường trong và ngoài nước.
2. Caltex
Biểu tượng của Caltex xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1949. Caltex tiếp thị các sản phẩm dầu khí ở miền Bắc Việt Nam cho tới năm 1954 và ở lại miền Nam cho tới năm 1975. Tại thời điểm đó sản phẩm Caltex chiếm tới 20% thị phần miền Nam Việt Nam.
Caltex trở lại Việt Nam vào năm 1994, đúng thời điểm lệnh cấm vận được dỡ bỏ và chỉ 1 năm sau khi Việt Nam ban hành Luật dầu khí. Quay lại sau 45 năm, lần này Caltex đồng thời mở Văn phòng Đại diện tại Hà Nội và chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh.
Công ty Dầu nhờn Caltex Việt Nam bắt đầu hoạt động từ tháng 7/1998 và tập trung vào sản xuất, bán các loại dầu nhờn phục vụ cho đối tượng đông đảo này. Theo kết quả Nghiên cứu thị trường của AC Nielsen vào tháng 10/1999, dầu nhờn Caltex được người tiêu dùng xếp thứ 3 trong số các sản phẩm dầu nhờn được ưa chuộng tại thị trường Việt Nam
3. VIDAMO
Vidamo là một thương hiệu dầu nhờn thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam (PV Oil) - Trực thuộc PetroVietnam.
Đây là doanh nghiệp đầu tiên trong nước sản xuất và cung cấp dầu mỡ nhờn có thương hiệu riêng của Việt Nam: được thành lập năm 1991.
Tuy nhiên, VIDAMO lâu nay vẫn chỉ để ý đến thị trường bán buôn (khách hàng là các doanh nghiệp nhà nước lớn), do vậy người tiêu dùng ở VN đa số không biết đến thương hiệu này, mặc dù sản phẩm của VIDAMO khá tốt và có giá bán lại rẻ hơn hẳn so với Sell, BP...
5. Castrol
Hiện nay Castrol đã bị BP mua lại
6. Exxon Mobil:
Là một tập đoàn dầu khí đa quốc gia của Mỹ, có tổng doanh thu lớn nhất thế giới với 404,5 tỷ USD năm 2007, lợi nhuận 40,6 tỷ (2007), thị trường tư bản vốn cũng là lớn nhất với 517.92 tỷ USD tính 20tháng 7 năm 2007, là tập đoàn lớn nhất trong 6 tập đoàn dầu lớn, với sản lượng dầu thô hàng ngày khai thác 6,5 triệu thùng.
Exxon Mobil được thành lập ngày 30 tháng 11 năm 1999 khi hợp nhất Exxon và Mobil, trụ sở chính tạiIrvingTexas, Mỹ, có 106.000 nhân công. Ban đầu do John D. Rockefeller thành lập công ty Standard Oil năm 1870. Quản lý và chủ tịch hội đồng quản trị hiện tại là ông Rex W. Tillerson
7. PLC (HASTC)
Công ty Cổ phần Hóa dầu Petrolimex - www.plc.com.vn
(Petrolimex Petrochemical Joint Stock Company)
Công ty có ba ngành hàng chính sau:
- Ngành hàng Dầu mỡ nhờn: bao gồm dầu nhờn động cơ; dầu nhờn công nghiệp và dầu nhờn hàng hải chiếm khoảng 41% tổng doanh thu năm 2005;
- Ngành hàng nhựa đường: gồm nhựa đường đặc nóng, nhựa đường đặc và các chế phẩm của nhựa đường ở dạng lỏng đóng góp khoảng 22% tổng doanh thu của công ty năm 2005; 
- Ngành hàng Hóa chất đóng góp khoảng 37% tổng doanh thu của công ty năm 2005. PLC kinh doanh trên 50 mặt hàng dung môi hóa chất là các sản phẩm thuộc lĩnh vực hóa dầu
Ngành hàng dầu mỡ nhờn: Công ty bán hàng qua các kênh sau: kênh bán hàng trực tiếp (chiếm khoảng 16% tổng sản lượng dầu mỡ nhờn của công ty), khách hàng của kênh này là những khách hàng tiêu dùng trực tiếp của ngành đường sắt, ngành than, điện, xi măng, mía đường, thép, vận tải biển; Kênh tổng đại lý Petrolimex bao gồm các công ty xăng dầu thành viên của Petrolimex trên toàn quốc gồm hơn 2000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu đóng góp khoảng 51% tổng doanh thu dầu mỡ nhờn của công ty; Kênh Đại lý bán buôn, bán lẻ ngoài hệ thống Petrolimex: đóng góp khoảng 12% tổng sản lượng dầu mỡ nhờn bán ra của công ty năm 2005
8. Petronas
9. Esso
Theo nhận định chủ quan của nhiều người thì Shell là tốt nhất và kế đến là B
daunhothoanglong.znn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét